1. Home
  2. Kiến thức pháp lý
  3. Dân sự

Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật Tố tụng Dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng.

84 Dân sự

Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật Tố tụng Dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng.
MỤC LỤC

1.        Các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp toà án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án
Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp toà án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án

BLTTDS 2015 quy định tại điều 114 về các biện pháp khẩn cấp tạm thời, cụ thể gồm 16 biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể và các biện pháp khác được pháp luật quy định.

“Điều 114. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.

4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.

7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.

9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.

11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.

14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

15. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu.

16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định.”

So với BLTTDS 2004, các biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể được quy định trong điều 114 BLTTDS 2015 đã được bổ dung khá nhiều (từ khoản 13 đến 16). Tương ứng với mỗi biện pháp khẩn cấp tạm thời được liệt kê ở trên lại có một điều luật cụ thể quy định về điều kiệp áp dụng, thủ tục áp dụng[1]. Trên thực tế, các vụ án dân sự rất đa dạng, khó có thể liệt kê được hết các biện pháp khẩn cấp tạm thời, do đó vẫn còn nhiều vướng mắc trên thực tế thực hiện.

2.        Thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi và huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được xác định theo thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Trước khi mở phiên toà, việc giải quyết vụ án dân sự do một thẩm phán tiến hành nên việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do một thẩm phán xem xét, quyết định. Tại phiên toà, việc giải quyết vụ án dân sự do hội đồng xét xử tiến hành nên việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do hội đồng xét xử xem xét, quyết định. Trường hợp huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời sau khi bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật thì do một thẩm phán được chánh án của toà án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phân công giải quyết quyết định.

Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến toà án giải quyết vụ án dân sự. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015. Kèm theo đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, người yêu cầu còn phải cung cấp cho toà án các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước phiên toà, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, quyết định trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Trong trường hợp người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thì ngay sau khi người đó thực hiện biện pháp bảo đảm, thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên toà thì hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay khi nhận được yêu cầu nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc sau khi người yêu cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm. Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện cùng với khởi kiện thì sau khi nhận đơn chánh án toà án chỉ định ngay một thẩm phán thụ lí giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Trong trường hợp toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ, phong toả tài sản của người có nghĩa vụ thì tài khoản, tài sản được phong toả phải có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.

Đối với những trường hợp thẩm phán không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết và trong đó phải nêu rõ lí do của việc không chấp nhận.

Vì tình thế khẩn cấp nên các quy định của BLTTDS năm 2015 về các thời hạn thực hiện các thủ tục trong quy trình tố tụng này là khá nhanh, ví dụ thời hạn xem xét để ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ trong 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc người yêu cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm[2]... Nhìn chung, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015 đã thể hiện được tính nhanh chóng, khẩn trương, tương đối phù hợp với tính chất khẩn cấp, tạm thời của thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực sự đáp ứng được tính khẩn cấp, tạm thời của việc ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay chưa thì có lẽ cần được kiểm chứng với thực tiễn áp dụng. Ví dụ: theo điểm a khoản 2 Điều 133 BLTTDS năm 2015, thời hạn toà án xem xét để ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ trong 03 ngày kể từ ngày nhận đơn. Nếu so với thời hạn ra các quyết định khác được quy định trong BLTTDS năm 2015 thì thời hạn để xem xét, giải quyết, ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã là rất ngắn. Nếu theo đoạn 2 khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015, thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm chỉ là 48 giờ, nhưng nếu so với tính chất khẩn cấp của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì vẫn có những trường hợp trên thực tế áp dụng cho thấy các thời hạn này là quá dài, từ đó quá chậm để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ví dụ như ở trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong toả tài khoản, nếu người có tiền trong tài khoản chỉ cần chưa đến một phút để chuyển khoản, tẩu tán tiền trong tài khoản chỉ cần chưa đầy 1 phút để chuyển khoản hoặc rút tiền thì rõ ràng tính khẩn cấp vẫn chưa được đáp ứng.

3. Thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Sau khi ra quyết định mà xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp hoặc không cần thiết, phải thay đổi hoặc phải áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác vì điều kiện áp dụng đã thay đổi thì toà án có thể quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ngoài ra, toà án cũng có thể quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy vậy, để bảo đảm việc quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung hay huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được đúng, toà án phải xem xét thận trọng trước khi quyết định. Đối với việc quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời, Điều 137 BL năm 2015 quy định được thực hiện theo thủ tục quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đối với việc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều 138 BLTTDS năm 2015. Theo đó, toà án quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có một trong các trường hợp sau đây:

- Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị huỷ bỏ;

- Người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;

- Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của BLDS;

- Việc giải quyết vụ án được đình chỉ theo quy định của BLTTDS;

- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng theo quy định của BLTTDS;

- Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn;

- Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật;

- Các trường hợp toà án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của BLTTDS.

Nếu huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, toà án phải xem xét, quyết định để người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhận lại chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc tài sản bảo đảm đã nộp ở ngân hàng, trừ trường hợp người yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba.

4. Khiếu nại, kiến nghị quyết định áp dụng, thay đổi và hủy bỏ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể không chính xác hoặc không còn căn cứ nên đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị. Việc khiếu nại, kiến nghị khi cho rằng quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án là không đúng hoặc hành vị của thẩm phán, Hội đồng xét xử trong việc giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng thì xuất phát từ quyền tố tụng của mình, đương sự trong tố tụng dân sự có quyền khiếu nại và xuất phát từ quyền giám sát, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị. Theo quy định tại Điều 140 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn để đương sự khiếu nại, Viện kiểm sát kháng nghị là 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án về việc áp dụng, thay đổi, hủy hỏ hay không áp dụng, thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Vì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay, không thể bị kháng cáo, kháng nghị nên quy định về khiếu nại, kháng nghị về quyết định này là cần thiết, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được đúng đắn, khách quan.

Theo Điều 141 của BLTTDS năm 2015, nếu quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời bị khiếu nại hay kháng nghị thì việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị đó thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án nơi đang xem xét, giải quyết vụ việc dân sự. Thời hạn giải quyết là trong thời hạn 3 ngày, một thời hạn tương đối ngắn phù hợp với tính khẩn cấp của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khỉ Chánh án đã có quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị thì quyết định đó là quyết định cuối cùng. Riêng trường hợp tại phiên tòa thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kháng nghị là của Hội đồng xét xử và quyết định của Hội đồng xét xử cũng là quyết định cuối cùng.

5. Trách nhiệm bồi thường từ việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng.

Việc áp dụng đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời mang lại nhiều ý nghĩa, song nếu việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị yêu cầu. Để ngăn ngừa người có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời lạm dụng quyền yêu cầu, ngăn ngừa Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, bảo vệ quyền, ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, pháp luật hiện hành còn quy định trách nhiệm do việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng.

Đối với trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

Việc quy định trách nhiệm do việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng trong BLTTDS là cần thiết nhằm buộc người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như Tòa án đều phải thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng khi đưa ra yêu cầu hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Do đó, sẽ hạn chế được việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời một cách tùy tiện, không có căn cứ, giảm tải cho Tòa án trong quá trình giải quyết án, đồng thời với quy định về trách nhiệm bồi thường trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, sẽ dễ dàng xác định được yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nào của đương sự là thật sự có căn cứ và cần thiết.

Theo quy định tại Điều 113 BLTTDS thì: “Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường”.

Tuy nhiên, quy định này chưa thật sự hợp lý, bởi đương sự có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, song việc có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không là do Tòa án. Tòa án phải cân nhắc, căn cứ vào quy định của pháp luật và đơn yêu cầu để quyết định có áp dụng hay không biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự yêu cầu. Vì vậy, pháp luật chỉ xác định trách nhiệm của người yêu cầu trong trường hợp này là chưa thỏa đáng mà cần quy định cả trách nhiệm của Tòa án trong trường hợp này.

Đối với trường hợp Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo quy định tại Điều 119 BLTTDS, Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 104 BLTTDS năm 2015. Trong những trường hợp nêu trên, Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, tự Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sai thì Tòa án phải bồi thường.

Đối với trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu

Đối với trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo đơn yêu cầu của đương sự, người đại diện của đương sự thì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nào là theo đơn của đương sự. Vì vậy, khi đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng Tòa án lại áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự yêu cầu là trái với quyền tự định đoạt của đương sự. Do đó, nếu việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại thì Tòa án phải bồi thường.

Đối với trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quả yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức:

Đây là trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng Tòa án đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu của họ.

Đối với trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng.

Yêu cầu của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là kịp thời. Việc áp dụng kịp thời biện pháp khẩn cấp tạm thời thì mục đích đặt ra đối với việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mới thực hiện được. Do đó, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng sẽ gây thiệt hại cho người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải bồi thường.

Có thể thấy quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc bồi thường thiệt hại do việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng là phù hợp với Điều 19 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về phạm vi bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự. Tuy nhiên đối với ba trường hợp được quy định tại điểm a, b, c Khoản 2 Điều 113 như đã phân tích ở trên, thực tế rất khó xảy ra bởi quy định bổ nhiệm thẩm phán theo nhiệm kì ngành Tòa án thì thẩm phán sẽ rất e ngại áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Như vậy những quy định này chỉ là những quy định mang tính hình thức.

C.G

[1] Xem Điều 115 đến Điều 142 BLTTDS 2015

[2] Xem Điều 140 BLTTDS 2015


HÃY GỌI 088 995 6888 ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ
Công ty Luật TNHH Youth & Partners
Thời gian – Tận tâm – Tận lực
Hotline: (+84) 88 995 6888
Email: thanhnv@vinhphuclawyers.vn | vinhphuclawyers.vn
Địa chỉ: 174 Nguyễn Văn Linh, Liên Bảo, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc